1. Nguồn đề tài diễn giảng
Giảng sư của đạo Phật có những nguồn đề tài sau đây:
- Thứ nhất, Giảng theo một bài Kinh hay một bộ Kinh.
- Thứ hai, Giảng theo một Chủ đề riêng tự nghĩ ra.
Mỗi nguồn đề tài có ưu điểm và nhược điểm riêng.
Ưu điểm của Kinh là cho ta sẵn chủ đề nên ta không cần mất công tìm kiếm. Ta chỉ việc lấy Ý của bài Kinh để triển khai phân tích là được. Nếu biết rằng việc tìm đề tài để giảng là nỗi lo lắng lớn của giảng sư thì ta mới biết quý hóa việc Kinh cho ta sẵn những đề tài bất tận như thế.
Ta sẽ giảng những bài kinh Nikaya trước để tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp diễn giảng của mình, cũng như tạo nền tảng vững chắc cho thính chúng của mình. Sau đó, dần dần ta sẽ chọn lựa những bộ kinh Đại thừa phù hợp với quan điểm giáo hóa của mình mà triển khai tiếp.
Ưu điểm của kinh Nikaya là rất thực tế, rất phù hợp với lịch sử, nhưng rất là cao siêu. Cái cao siêu của kinh tạng Nikaya được giấu trong vẻ đơn giản bình dị nên ít ai hiểu được. Nhiều người nông nổi đã cho rằng Nikaya là thấp. Thật ra trái lại, những ai có quyết tâm thực hành tu tập mới thấy được giá trị của Nikaya, cực kỳ chuẩn xác và hợp lý. Chính vì kinh tạng Nikaya có vẻ đơn giản nên nếu giảng sư nào không có kinh nghiệm tu hành, không có lối giảng hấp dẫn thì sẽ làm thính chúng buồn chán. Trong các trường Phật học vẫn truyền tụng danh hiệu “tiến sĩ gây mê” cho những vị giảng Nikaya với lối giảng đều đều gần như nguyên văn trong kinh bổn. Sở dĩ có hiện tượng kỳ lạ như vậy vì khi đi du học bên Ấn Độ, các
Tăng sinh của ta được học Nikaya từ các vị giáo sư Hindu. Họ không chuyên lắm về Phật pháp nên trình bày kinh Phật cô đọng chứ không dám triển khai rộng lớn.
Riêng kinh điển Đại thừa thì mênh mông kỳ vĩ, và rất nhiều sắc thái. Thậm chí có những bộ kinh có quan điểm trái ngược hẳn nhau. Chính vì vậy mà Phật giáo Đại thừa cuối cùng phải phân ra nhiều tông phái, và ít khi bao dung được nhau. Do đó, khi chọn bản kinh Đại thừa để diễn giảng, ta đành phải chọn bản kinh nào hợp với quan điểm tu hành của mình để nói với tâm huyết của mình. Nếu chọn bản kinh không phù hợp, ta sẽ giảng một cách gượng gạo.
Nếu giảng kinh, nhất là kinh Đại thừa, ta không thể nào giảng một lần mà nói hết trọn vẹn được. Ngay cả đọc nguyên văn cũng đã lấy mất rất nhiều thời gian. Vì vậy, ta sẽ có việc để làm dài dài nếu bắt đầu khai một bộ kinh Đại thừa để giảng. Mỗi một đoạn, một ý của kinh cũng chứa đựng nhiều ý tứ phong phú. Tùy theo trí tuệ riêng biệt của giảng sư mà Ý đó sẽ được phân tích sâu xa đến như thế nào.
Ngược lại, giảng kinh cũng có những điểm khó khăn hơn vì nhiều lẽ.
Thứ nhất, văn phong của Kinh luôn là lối văn cổ. Dù có được chuyển ngữ vài ba lần cho đến khi ta cầm đọc, Kinh vẫn mang theo những từ cổ xưa khó hiểu kèm theo một ngữ pháp chưa có hệ thống rõ rệt. Người xưa có thể hiểu được lời kinh khoảng 95% thì ngày nay ta chỉ hiểu lời kinh khoảng 60%. Rất nhiều từ chuyên môn đã bị hiểu sai.
Ví dụ từ thân kiến có nghĩa là ích kỷ, nhưng đã bị hiểu thành những nghĩa khác vì ta bị buộc vào từ ngữ mà không nhìn thấy nghĩa thật của Phật muốn nói.
Ví dụ, từ Giới cấm thủ có nghĩa là cố chấp, nhưng ngày nay ta cũng rất lúng túng khi giải thích từ ngữ này.
Ví dụ từ tâm sở đắc có nghĩa là tâm niệm bí mật sâu kín tự khen ngợi chính mình nhưng đã không được lột tả chính xác bởi người nay.
Khi ta hiểu chưa hết ý Phật muốn nói thì dĩ nhiên ta không thể trình bày khúc chiết rành mạch cho thính chúng được. Như vậy bài giảng của ta không thể đem lợi ích cho người. Đây là thất bại của giảng sư.
Để khắc phục nhược điểm này, ta phải cố gắng hiểu được từ ngữ chuyên môn của Kinh thật chính xác, đồng thời phải khéo léo giảng Kinh cổ bằng văn phong của thời đại hôm nay. Biết bao giảng sư đã thất bại khi cứ tiếp tục giảng Kinh cổ bằng ngôn từ cổ y như vậy. Rồi những Tăng Ni sinh chìm trong thế giới cổ ngữ suốt nhiều năm, đến khi bước ra giảng dạy lại tiếp tục sử dụng cổ ngữ đầy dẫy khiến cho quần chúng Phật tử ngơ ngác xa lạ rồi sinh ra chán nản Phật Pháp. Tăng Ni sinh phải khôn ngoan rèn luyện cho mình khả năng giảng Kinh điển cổ bằng lối văn hiện đại. Đây là yêu cầu rất bức thiết, và cũng là đạo đức của giảng sư.
Đạo đức của giảng sư là đem đạo lý đến tận tâm hồn mọi người chứ không chờ đợi mọi người tìm đến đạo lý. Chính vì vậy, giảng sư phải tìm cách giảng cho người nghe dễ hiểu, giảng bằng ngôn ngữ của người nghe, chứ không phải giảng bằng ngôn ngữ của riêng mình. Những cổ ngữ Hán văn, Pali văn... mà ta đã thấm nhuần quen thuộc trong suốt mấy năm trau dồi ở Phật học viện đã trở thành ngôn ngữ của riêng ta, không phải ngôn ngữ của thính chúng.
Có những giảng sư thích sử dụng nhiều từ chuyên môn cổ như để khoe khoang bề dày học tập của mình, và cũng có ý muốn thiên hạ nể phục. Nhưng trong nghệ thuật diễn giảng, những điều đó là cấm kỵ. Giảng sư phải thoát ra khỏi những ngôn ngữ hàn lâm kinh viện cổ điển để chuyển qua ngôn ngữ của thính chúng. Trong suốt thời gian ngồi học ở Phật học viện, Tăng Ni sinh phải tự mình tìm các từ hiện đại thay thế cho những từ cổ điển hàn lâm. Sau này khi ra trường làm việc, Tăng Ni sẽ không bị lúng túng khi sử dụng ngôn ngữ trong diễn giảng.
Thứ hai, Ý tứ trong kinh điển cổ là Ý của các vị đã chứng thánh. Bây giờ ta dùng tâm ý của phàm phu để cố tìm hiểu những đạo lý đó thì cũng giống như “lấy dạ tiểu nhân để đo lòng quân tử”. Rất nhiều lời Kinh đã bị giảng sai trong suốt mấy nghìn năm lịch sử Phật giáo. Cũng may là nguyên văn Kinh điển tiếp tục tồn tại nên người này giảng sai thì người khác có kinh nghiệm tu tập sẽ điều chỉnh lại.
Bây giờ ta phát tâm đem một bộ kinh ra diễn giảng phân tích thì ta lại cũng làm công việc đếm nước của đại dương với đôi bàn tay nhỏ bé của mình. Rất khó tránh khỏi sai sót. Mà giảng sai Ý của Phật thì tội không phải nhỏ. Giảng sư phải lượng sức mình khi muốn giảng Kinh Phật. Đừng giảng kinh Phật để lấy thành tích là ta đây cũng giảng được kinh bộ. Tâm niệm đó sẽ khiến ta giảng sai Ý Phật và tạo tội nặng. Chỉ nên giảng kinh Phật khi ta có thực hành tu tập phần nào, có hiểu được chuẩn xác từng bước căn bản.
Có nhiều Ý trong kinh Phật thuộc về giai đoạn tu chứng rất cao mà ta chưa đạt tới. Nếu ta giảng thao thao như mình đã chứng rồi thì mắc tội nói dối, mà chắc chắn là giảng sai. Đơn cử như giải thích về quả vị Tu đà hoàn, được Phật xác nhận là đã phá trừ được 3 kiết sử thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Nhưng rồi những cư sĩ Tu đà hoàn đó vẫn lập gia đình sống đời thế tục. Vậy trạng thái tâm linh của vị đó như thế nào? Nếu ta đánh giá vị Tu đà hoàn quá thấp, ta mang tội nặng; nếu ta đánh giá vị Tu đà hoàn quá cao, thì tại sao vị đó vẫn sống đời thế tục bình thường?
Vì vậy, điều khó khăn nhất cho giảng sư là diễn giảng những đạo lý vượt ngoài kinh nghiệm, trí tuệ của mình. Đây cũng chính là yêu cầu gay gắt đối với một giảng sư, phải thực hành tu tập tinh tấn. Giảng sư mà không tinh tấn tu tập thì chắc chắn chỉ giảng được những đạo lý thấp thấp mà thôi.
Sau này Tăng Ni sinh ra trường làm Phật sự và cũng đi thuyết pháp nơi đây nơi kia, hãy lượng sức mình, hãy xem khả năng tu tập của mình để giảng những đề tài phù hợp. Đừng vội vàng giảng quá cao rồi phạm sai lầm.
2. Tìm đề tài riêng lẻ
Dĩ nhiên đề tài riêng lẻ cũng là đạo lý Phật giáo, nhưng không dựa theo trình tự một bộ Kinh. Ví dụ ta triển khai đề tài Tinh tấn tu hành. Ta sẽ trình bày nhiều khía cạnh, nhiều Ý tứ, nhiều đạo lý chung quanh vấn đề Tinh tấn. Ta có dẫn chứng kinh điển, nhưng không đi theo bài kinh nào, chỉ sắp xếp dàn ý theo suy nghĩ riêng của mình sao cho hợp với tâm tình của thính chúng và khuyến khích mọi người hăng hái tu tập.
Cái khó của việc tìm đề tài riêng lẻ là không biết lấy đề tài ở đâu ra. Có vị giảng bài này rồi không biết bài tới sẽ giảng cái gì; có vị giảng được 10 bài rồi không biết nói về đề tài gì thêm nữa. Vì vậy, nếu giảng đề tài riêng lẻ, ta có quyền dẫn dắt bài giảng theo trình độ của mình mà không sợ nói quá cao mang tội, nhưng ta sẽ bị cái khó là không biết tìm đề tài ở đâu ra. Vì vậy, thử thách lớn cho giảng sư giảng đề tài riêng lẻ là khả năng tìm đề tài. Nếu có trí tuệ tìm đề tài thì vị đó cũng sẽ có khả năng triển khai đề tài một cách phong phú.
Những phương pháp tìm đề tài cho các bài giảng riêng lẻ được liệt kê như sau:
- Thứ nhất là lòng thương yêu chúng sinh: Đây là điều kiện tiên quyết cho một giảng sư, vừa là đạo đức, vừa là phương pháp. Tại sao khi thật lòng thương yêu chúng sinh thì ta sẽ có nhiều đề tài để giảng giải? Bởi vì khi thương yêu chúng sinh, mà phải thương yêu thật lòng, thương yêu sâu đậm, thương yêu lâu dài, thì tự nhiên lòng ta xuất hiện sự quan tâm đến chúng sinh. Khi quan tâm đến chúng sinh thì tự nhiên ta hay nhìn thấy những đau khổ của chúng sinh. Khi nhìn thấy những đau khổ của chúng sinh thì ta hay trăn trở nghĩ cách vượt qua những đau khổ đó. Chính khi ta nghĩ cách vượt qua đau khổ, chiến thắng sự phiền muộn, dập tắt những sai lầm, dựng xây những lẽ phải là lúc ta có vô số đề tài để nói. Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên, không phải là tiền đâu, mà chính là lòng thương yêu chúng sinh sâu đậm. Muốn làm giảng sư, ta phải có lòng từ ái mênh mông. Mỗi ngày ta phải trau dồi lòng thương yêu chúng sinh khi ngồi thiền, khi lễ Phật, khi đối tiếp với mọi người, khi lao tác công quả. Phải làm sao cho lòng từ bi lớn dần theo ngày tháng. Đến khi nào ta thấy rõ lòng mình bỗng nhiên nhìn ra được mọi điều đau khổ của thế gian một cách sâu sắc là lúc ta bắt đầu có trí tuệ, và đó cũng là lúc ta sẽ có nhiều đề tài để giảng dạy.
- Thứ hai là tập đặt những câu hỏi. Trong suốt cuộc sống này, ta sẽ chứng kiến không biết bao nhiêu là sự kiện, gặp gỡ không biết bao nhiêu người, nhìn thấy biết bao nhiêu là nỗi khổ, bao nhiêu là niềm vui. Với một người bình thường không có lòng thương yêu chúng sinh thì chỉ dừng ngang chỗ chứng kiến mà không biết đặt ra những câu hỏi tại sao, làm gì. Còn một người có lòng từ bi sẽ tự nhiên khởi lên trong tâm các câu hỏi như tại sao con người đau khổ đến như thế, tại sao con người hay ghét nhau đến thế, tại sao con người cố chấp đến như thế, làm gì để cho chúng sinh bớt khổ, làm gì để con người đừng kết tội nhau, làm gì để con người có thể sống vị tha nhân ái hơn, ...
- Thứ ba là nhìn thấy những nghĩa lý thâm sâu trong từng sự kiện, và đề tài giảng xuất hiện. Ví dụ, cũng đều nhìn thấy một người còng lưng trong mưa đạp xe đi bán chuối, một người có lòng thương xót cho cảnh đời vất vả, một người nhìn thấy cả tâm trạng nhẫn nại, lo âu, hy vọng của người bán chuối đó. Người sau có quá trình tu tập lòng từ bi dày hơn người trước. Rồi khi nhìn thấy nỗi khổ lẫn niềm hy vọng của người kia, ta có thể hiểu rằng sở dĩ con người chịu cực đủ điều để sống bởi vì họ còn có một chút gì hy vọng ở tương lai. Ai đánh mất hy vọng, có lẽ họ đã tự tử cả rồi. Nhận định này có thể cho ta một đề tài giảng lý thú.
Như vậy, nếu thực tập đúng 3 bước đi như thế, sau này ta sẽ có rất nhiều đề tài lấy ra được từ cuộc sống thực tế, và chắc chắn những bài giảng như vậy sẽ đánh động vào tâm tư của thính chúng. Tập đúng 3 bước như vậy sẽ mất rất nhiều thời gian, nếu ta bắt đầu từ bây giờ. Còn những ai đã từng có chất liệu từ bi trong tâm hồn từ nào giờ thì sẽ rất nhanh chóng phát triển tuệ quán để nhìn ra biết bao nhiêu điều có ý nghĩa cần phải nói từ cuộc sống thực này.
Việc tu tập từ bi là việc đòi hỏi thời gian lâu dài. Bây giờ ta giả dụ là mình đã có từ bi sâu đậm để thực hành những bước tiếp theo là tìm ra đề tài diễn giảng từ trong cuộc sống.
Bối cảnh 1. Một người đàn ông ngồi trong quán ăn đưa chân cho một đứa bé đánh giày ở dưới gầm bàn.
Bối cảnh giả thiết này cho ta những suy nghĩ gì?
Ta có thể nhìn thấy sự tủi nhục của đứa bé, rồi suy luận ra sự hả hê của người đàn ông. Nếu nhìn như vậy ta sẽ muốn nói về đề tài người giàu phải biết thương yêu tôn trọng người nghèo khó.
Hoặc ta có thể nhìn thấy Nghiệp quả xấu mà đứa bé phải trả vì biết đâu quá khứ đã từng lạnh nhạt với người khác. Như vậy ta lại muốn nói về việc tạo phước để có phẩm giá giữa cuộc đời.
Bối cảnh 2. Một người ngồi câu cá nhàn hạ.
Nhìn thấy người câu cá này có vẻ không căng thẳng, ta hiểu người này câu cho vui chứ không tất bật vì nghèo khó. Thế tại sao người ta thích hưởng nhàn bằng cách câu cá, lừa gạt cá ăn mồi để mắc phải lưỡi câu đau đớn?
Ta hiểu rằng trên đời, có khi niềm vui của người này lại là nỗi khổ của người kia. Như vậy ta muốn nói về tính tương đối của niềm vui và nỗi khổ.
Hoặc ta lại muốn nói về đề tài có nhiều người đang nhàn hạ nhưng đang từng giờ gieo nhân đau khổ.
Bối cảnh 3. Một bà cụ già đang ngồi đan giỏ.
Hình ảnh này cho ta cảm nghĩ về sự sắp xếp lại thời gian của đời người. Lúc nhỏ ta được nuôi dưỡng và chuẩn bị. Trưởng thành
thì gánh vác lo cho gia đình và xã hội. Già rồi thì được nghỉ ngơi tu tập. Nhưng vì những lý do gì đó mà sự phân bổ thời gian như thế không được thực hiện nơi một số người. Ta muốn nói về đề tài bảo vệ tuổi già như là phần thuởng cho quãng đời trẻ họ đã cống hiến.
Hoặc ta có suy nghĩ về Nghiệp quả chi phối kiếp sống con người. Ta phải ráng tạo phước sao cho về già ta được hưởng phước thanh nhàn vui sướng một chút. Về già mà vất vả quá thì thật là cơ cực vì sức khỏe đã xuống nhiều lắm rồi.
Bối cảnh 4. Mưa rơi trắng xóa
Ta có thể suy nghĩ về sự lưu chuyển của nước, bốc hơi từ mặt biển sông, lên cao thành mây trôi đi khắp nơi, đến nơi có duyên thì ngưng tụ thành nước rơi xuống. Nếu không có sự lưu chuyển như thế thì không có mây, không có mưa và không có sự sống trên Trái đất này. Giống như tình thương yêu của loài người với nhau, khi thì hướng lên cao cho những bậc ở trên, khi thì bay đi khắp chốn xa xôi, khi thì rơi xuống cho những người dưới thấp, để cho đời kết nên những hạnh phúc an vui.
Hoặc ta suy nghĩ về sự không ổn định của thời tiết. Có nơi thì mưa ít ỏi, có nơi thì mưa dữ dội để trở thành lụt lội. Chính nghiệp của chúng sinh đã tạo nên sự bất thường như thế. Trong những bất thiện nghiệp đó, tội ác phá rừng nổi lên như một nghiệp bất thiện ghê gớm nhất.
Bối cảnh 5. Báo chí vừa đăng tin bọn khủng bố đánh bom giết nhiều người vô tội
Ta có thể suy nghĩ và muốn nói về những niềm tin sai lầm đã gây nguy hiểm lâu dài và lớn lao cho nhân loại. Và như vậy, ai gieo
rắc được những điều thiện khiến cho con người biết thương mến khoan dung với nhau chính là những ân nhân của nhân loại.
Ta cũng muốn nói về trách nhiệm của người đệ tử Phật phải biết tích cực truyền bá giáo pháp để cứu thế giới này, phải cạnh tranh mạnh mẽ với những đoàn truyền giáo khác, vì ta tin rằng Phật Pháp là chân lý chân chính nhất, khoan dung nhất, nhân từ nhất.
Bài tập: Tăng Ni sinh tìm 3 đề tài khác nhau. Giải thích vào trong máy do nhìn bối cảnh nào, do suy nghĩ ra sao... mà ta đã chọn đề tài đó. Và ta sẽ diễn đạt thành những ý chính như thế nào.
