1. Tâm linh là gì
Song song với lời lẽ tuôn tràn, điệu bộ chuẩn xác, giảng sư còn thuyết pháp bằng một yếu tố vô hình khác cho thính chúng, đó là tâm linh.
Tuy là vô hình, nhưng yếu tố tâm linh cũng tạo nên hiệu quả cho gần phân nửa bài giảng. Ta có thể tưởng tượng một giảng sư đăng đàn với lời lẽ hợp lý, nhưng thiếu hẳn sức mạnh tinh thần, không tạo nên một sự lôi cuốn thẳng vào tâm thính chúng. Bài giảng đó cũng không hấp dẫn. Thật sự đã có những giảng sư nói không sai với kinh điển nhưng vẫn không làm người nghe ham thích chú ý, chỉ vì thiếu sức mạnh tâm linh. Sức mạnh tâm linh này là vô hình nên ta không thể phân tích, nhìn thấy, chỉ rõ cho nhau được. Ta chỉ có thể gợi ý để mỗi người tự chiêm nghiệm lấy, cảm nhận lấy về sức mạnh nội tâm của diễn giả giúp tạo nên sự nối kết chặt chẽ từ tâm diễn giả đến tâm của thính chúng.
Có những giáo viên dạy học bình thường, cũng lên lớp đều đặn như bao nhiêu người khác, nhưng mỗi khi người đó xuất hiện thì học sinh tự nhiên chú ý. Cũng có những giáo viên khác, dù la lối hăm dọa đủ cách, vẫn không làm học sinh im lặng nghe giảng chăm chú được. Chính cái thần riêng của mỗi người đã tạo nên sức thu hút đối với học sinh. Cái Thần đó thuộc về yếu tố tâm linh.
Thật ra mỗi người đều có một mức độ năng lực tâm linh nào đó, không giống nhau. Nơi giảng sư, năng lực tâm linh chính là sự nối kết từ tâm mình đến tâm thính chúng. Năng lực đó làm cho mọi người cảm thấy bị lôi cuốn phải lắng nghe từng lời từng chữ để hiểu hết bài giảng. Nhờ sự cuốn hút đó mà bài giảng không bị phí phạm.
Nhiều khi ta soạn bài rất công phu, có nhiều ý tứ độc đáo mới lạ, nhưng khi trình bày thì người nghe lơ đễnh cũng rất là uổng phí.
Những nghệ thuật như khôi hài, ý tứ mới lạ, chuyện kể, ví dụ, thơ ca, đã góp phần làm lôi cuốn sự chú ý của thính chúng rồi, nhưng lúc nào cũng phải có yếu tố tâm linh để duy trì sự lôi cuốn từ đầu tới cuối. Nếu không có yếu tố tâm linh thì khi ta nói hay mọi người sẽ lắng nghe, khi ta nói bình thường thì mọi người sẽ lơ đễnh lập tức.
Những lãnh tụ lỗi lạc, những nhà chỉ huy tài ba đều có cái Thần mạnh mẽ khiến cuốn hút tâm hồn mọi người một cách tự nhiên. Mỗi khi họ xuất hiện là mọi người bị lôi cuốn dữ dội. Đứng trước một lãnh tụ đầy thần uy như vậy, hầu như người ta chỉ biết vâng lời. Chính nhờ sức mạnh đó mà các lãnh tụ đã kéo cả dân tộc đứng lên hành động làm thay đổi cả đất nước. Một số nghệ sĩ cũng có sự lôi cuốn vì tài năng, danh tiếng và sắc đẹp, nhưng không tạo nên sự kính nể như các nhà chỉ huy. Đa số khi gặp các nghệ sĩ, ta nhìn chăm chăm vì tò mò nhiều hơn. Có khi ta cũng ngưỡng mộ người nghệ sĩ, nhưng điều đó vẫn khác với sự lôi cuốn từ các lãnh tụ. Nếu một quan chức không có cái Thần lạ lùng đó thì có khi họ lên chức bằng con đường khác, không phải do tài năng đức độ.
Nhà thuyết giáo lại cần có cả hai cái sự thu hút như thế, mỗi cái một chút, vừa cái uy đức như một nhà chỉ huy, vừa cái dễ thương của một nghệ sĩ. Đức Phật là một biểu tượng tuyệt vời về sức thu hút đối với mọi người. Phật có phong cách cực kỳ trầm lặng, nhưng đồng thời tỏa ra một vùng từ bi rộng lớn chung quanh khiến chúng sinh yêu mến. Phật cũng tỏa ra một hào quang của sự uy nghi, trí tuệ khiến chúng sinh kính phục vô hạn. Vì thế, khi Phật cất lời, mọi người chăm chú nghe không sót một chữ.
Bình thường, sự liên kết tâm linh giữa người giảng và người nghe xuất phát từ đôi mắt của giảng sư. Người có đôi mắt tốt, sáng, có tâm lực bên trong sẽ thu hút mọi người bằng cái nhìn của mình. Đôi mắt thật sự là cửa sổ của tâm hồn nên khi nhìn nhau, người ta đi vào tâm hồn nhau là như thế. Khi giảng, giảng sư đảo mắt nhìn đến đâu là kéo tâm hồn của mọi người về với mình đến đấy.
Tuy nhiên, không phải ta cố gắng nhìn cho mạnh là tạo nên thần lực. Cái sức mạnh ở đôi mắt lại bắt nguồn ở nội tâm. Chính những người có nội tâm trầm lắng lại là những người có thần lực ở đôi mắt hơn cả. Ai không hiểu điều này, chỉ chuyên lo luyện mắt lại bị phản tác dụng, khi nhìn sẽ làm người đối diện khó chịu.
Thần lực còn hiện ra trong từng cử chỉ đĩnh đạc trầm tĩnh. Người có tâm lực sẽ có những cử chỉ chuẩn xác nhưng làm ta cảm nhận sức mạnh của sự cương nghị tiềm ẩn trong đó. Cũng một cái quơ tay, nhưng người yếu tâm lực vẫn quơ khác với người mạnh tâm lực. Ta nhìn một người có sức mạnh nội tâm sẽ thấy họ đi đứng hay cử động gì cũng ẩn tàng một sự nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ.
Trong một số phim truyện ta còn thấy cảnh một tay trùm xã hội đen nói chuyện với người dưới quyền bằng cách quay lưng lại nhưng vẫn làm đàn em sợ chết khiếp. Cái thần của hắn mạnh đến nổi hắn không cần phải nhìn hay cử động tay chân. Sự bất động của hắn còn mạnh hơn cả sấm sét. Ta chưa dám thể nghiệm giảng quay lưng lại thính chúng để xem thính chúng có còn tiếp tục chăm chú hay không. Tuy nhiên ví dụ đó cho ta bắt đầu nhận ra sự hiện diện của
một loại sức mạnh nội tâm vô hình nhưng tác động vào tâm hồn con người rất mạnh.
Làm một giảng sư Phật pháp, ngoài những đạo lý và nghệ thuật diễn giảng, ta còn phải chú ý rất nhiều đến sức mạnh tâm linh vô hình như vậy để bài giảng đạt được hiệu quả tối đa. Đạo lý, giọng nói, phương pháp diễn giảng có tiếng nói riêng, và sức mạnh vô hình của nội tâm cũng nói rất nhiều với mọi người theo cách khác. Không phải ta tạo ra một sức mạnh tâm linh vì muốn được chú ý cho bản ngã, mà thực sự ta chỉ muốn bài giảng được mọi người theo dõi kỹ lưỡng trọn vẹn. Đó là trách nhiệm mà thôi.
2. Rèn luyện sức mạnh nội tâm
Khi có sức mạnh nội tâm, ta sẽ nhận ra sự chú ý của thính chúng khi mình xuất hiện. Ta cũng nhận ra sự nối kết từ tâm ta đến tâm của người nghe rất rõ ràng. Chính nhờ cảm nhận được điều này nên ta có thể luôn luôn theo dõi sự chú ý của thính chúng liên tục. Chỉ cần một thoáng gián đoạn sự kết nối từ tâm đến tâm là ta phải điều chỉnh ngay lập tức nơi chính mình để giúp người nghe quay lại chú ý bài giảng. Sự kết nối từ tâm người giảng đến tâm người nghe là vô hình, nhưng giảng sư phải luôn luôn nhìn thấy sự kết nối đó.
Lễ Phật với lòng thiết tha tôn kính hằng ngày chính là nguồn gốc tạo nên sức mạnh tâm linh như thế. Khi ta an trú tâm hồn mình trong niềm tôn kính Phật tha thiết thì lâu ngày tự nhiên ta có một nội tâm mạnh mẽ, trầm hùng. Đây là công đức chính yếu của việc rèn luyện tâm lực. Nhân quả được tìm thấy là khi ta kính trọng bậc đáng kính thì ta sẽ thành tựu được những phẩm chất của vị đó. Phật là đấng đáng kính nhất trên trần gian này, vì thế ta sẽ được công đức
lâu bền và to lớn khi mỗi ngày ta đều quỳ xuống lễ kính Phật tha thiết như thế.
Lòng tôn kính Phật lớn lao chừng nào thì sức mạnh nội tâm của ta sẽ càng lớn lao chừng nấy. Đến khi nào ta cảm nhận được rất rõ là vì Phật ta sẵn sàng hy sinh thân mạng của mình thì niềm tôn kính đó là tuyệt đối, thành tựu. Ta sẽ duy trì niềm tôn kính đó mãi mãi qua vô lượng kiếp sau. Dĩ nhiên tâm niệm hy sinh thân mạng vì Phật không phải khiến cho ta làm điều gì liều lĩnh bậy bạ. Đó chỉ là dấu hiệu của lòng thành kính đã đạt được cực điểm mà thôi. Khi ta thuần thục lòng tôn kính Phật thì tự nhiên nơi hội giảng, mọi người nhìn ta cũng quý trọng lắng nghe.
Lòng Từ bi thương yêu tất cả chúng sinh cũng là nguyên nhân khởi phát sức mạnh nội tâm. Thật vậy, sau một thời gian tu tập lòng từ bi (5 năm trở lên), ta sẽ cảm thấy rõ tâm mình thương yêu mọi người hơn, quan tâm đến đời sống và tâm tình của mọi người hơn, và kết quả là mọi người cũng cảm thấy gắn bó với ta hơn. Khi lòng Từ bi thuần thục, ta sẽ nhận ra sự gắn kết từ tâm đến tâm khi ta xuất hiện trước mặt mọi người trên bục giảng.
Người thành tựu lòng Từ sẽ xuất hiện một sức hấp dẫn vô hình đối với chúng sinh. Sức hấp dẫn đó hiền lành, nhẹ nhàng, êm dịu khiến mọi người cảm thấy rất dễ chịu thoải mái. Trong các nguyên nhân tạo nên sức mạnh nội tâm, Phật khuyến khích nhiều nhất là tu tập Từ tâm. Từ tâm chẳng những tác động đến con người mà còn tác động đến các chúng sinh trong cõi giới tâm linh như chư Thiên, Asura, các hương linh còn lẩn quất nơi cõi người... Các loài thú có tâm linh mẫn tiệp cũng nhận ra người có tâm từ bi.
Ai có tâm nguyện muốn làm giảng sư phải tu tập Từ tâm rất nhiều để có được sự giao cảm với chúng sinh, có được sự gắn kết tâm hồn với thính chúng.
Sự quan tâm đến mọi người chung quanh lâu ngày cũng giúp tạo nên tâm lực vô hình. Đây chính là bước tiếp theo của việc tu tập Từ tâm. Chỉ “thương” thôi là chưa đủ, cần phải quan tâm đến tâm tình, đời sống, sức khỏe của mọi người chung quanh, và phải có việc làm cụ thể để đem đến an vui cho nhau.
Khi lòng thương yêu của ta lớn dần, tự nhiên ta hay quan tâm đến con người. Ta quan tâm đến tâm hồn, đến niềm vui nỗi khổ của nhau. Chính cái quan tâm đó đã tạo ra sự cảm ứng từ tâm đến tâm dần dần. Sau này đứng trên bục giảng nhưng tâm ta tự nhiên đi vào tâm của mọi người và cũng khiến cho mọi người chăm chú vào bài giảng nhiều hơn. Ai sống hời hợt ích kỷ chỉ biết đến mình thì không bao giờ tạo ra sự cảm ứng với tâm của mọi người được.
Nhiều người hay nói rằng “Thầy đó vừa xuất hiện là không khí trong giảng đường ấm áp liền”. Cái gọi là không khí đó chính là tâm lực của vị thầy tỏa ra bàng bạc cả không gian và thu hút mọi người. Thật ra để có thể tỏa được tâm lực ra cả một vùng nơi mình xuất hiện cũng phải là công phu của nhiều kiếp quan tâm yêu thương giúp đỡ chúng sinh.
Thiền định là yếu tố chính trong việc tạo nên tâm lực gắn kết với mọi người. Khi một người tu thiền có được Chánh niệm tỉnh giác thì lập tức người này đã có một vầng hào quang vô hình nhẹ nhẹ tỏa ra chung quanh mình. Đồng thời người này cũng tỏa ra một vùng cảm ứng đối với người chung quanh. Một vị giảng sư chứng được Chánh niệm tỉnh giác thì có một sức hút rất rõ đối với thính chúng. Khi giảng, vị này cũng luôn luôn theo dõi sự cảm ứng này để biết thính chúng có xao lãng hay không. Không phải là ta nhìn nét mặt từng người để biết họ có chăm chú hay xao lãng. Ta chỉ nhìn sự cảm ứng vô hình từ ta tỏa ra, có được đón nhận hay không. Nếu ta không nhận ra sự đón nhận của thính chúng thì ta phải lập tức thay đổi ý tứ hoặc giọng nói, hoặc cử chỉ liền lập tức để kết nối lại tâm hồn với nhau.
Vừa giảng vừa theo dõi tâm của người nghe là đỉnh cao của nghệ thuật diễn giảng.
Có những diễn giả chỉ bận tâm sắp xếp câu chữ ý tứ của mình mà không quan tâm đến tâm tình của thính chúng. Kết quả là buổi giảng tẻ nhạt vì không có một sự cảm ứng tâm hồn giữa người nói và người nghe. Việc diễn giả không để ý đến tâm của người nghe có thể lý do là vị đó không có thói quen đó, hoặc vị đó mới giảng nên không thể phân tâm ra làm hai, vừa sắp xếp ý tứ câu chữ, vừa theo dõi cái cảm ứng vô hình với nhau.
Những người có bản lĩnh thuyết giảng thì rất tự tại, vừa sắp xếp câu chữ, vừa có thể theo dõi sự cảm ứng tâm của khán giả. Chỉ cần thính chúng lơ đễnh chút xíu như sợi tóc là họ nhận ra liền và điều chỉnh sự thuyết giảng cho thích hợp để lập lại sự gắn kết tâm với tâm lập tức. Người như vậy khi thuyết giảng, tâm lực của họ bao trùm cả thính chúng rất mạnh và tạo nên sự thu hút rất lớn. Khán giả cũng thích tham dự những buổi giảng như thế vì họ sẽ không cần phải gắng sức chăm chú theo dõi bài giảng, sức mạnh của giảng sư đã kéo họ đi từng giờ từng phút rồi. Ngược lại khi tham dự một buổi giảng của một vị yếu kém về tâm lực, thính chúng phải gắng sức chăm chú theo dõi từng câu chữ nếu muốn hiểu nội dung bài giảng. Họ phải tìm đến nội dung, khác với việc họ được rót nội dung vào lòng một cách nhẹ nhàng thoải mái.
Ta có thể nói rằng Tâm lúc nào cũng ở nơi thính chúng là đặc điểm của giảng sư giỏi. Nếu khi giảng mà tâm ta ở nơi ta thì biết ngay sự nối kết tâm linh đã bị thiếu, bài giảng sẽ nhạt nhẽo. Nếu khi giảng mà tâm ta ở nơi thính chúng thì sự kết nối tâm đã hiện diện và bài giảng sẽ hiệu quả hơn. Ta cũng có thể đóng vai người nghe để cảm nhận điều này qua nhiều giảng viên khác nhau. Có người giảng mà tâm của người ấy không đến được với thính chúng; có người giảng mà tâm đến với thính chúng. Ta sẽ nhận ra sự khác biệt rất rõ.
Tầm cỡ của hội chúng cũng là sự thử thách đối với tâm lực của giảng sư. Có khi giảng viên chỉ đủ sức phủ tâm mình đến một nhóm vài mươi người như trong buổi đàm đạo, nhiều hơn số đó là họ cảm thấy lạc lõng; có giảng sư đủ sức phủ tâm mình đến vài trăm người nghe; có giảng sư có thể phủ tâm mình đến vài nghìn người; có giảng sư có thể phủ tâm mình đến cả những người ngồi cách vách tường đang lắng nghe. Phật có thể phủ tâm mình trong khi thuyết pháp đến vô biên pháp giới khiến cho cả Trời rồng Atula... đều cảm thấy bị thu hút mạnh mẽ.
Nếu tâm lực ta mạnh, ta sẽ tạo ra sự thu hút đối với số đông; nếu tâm lực ta yếu, ta bị tâm của mọi người săm soi khiến ta bị chao đão bất an. Tâm ta bất an rồi thì không còn sự gắn kết tâm ta với tâm thính chúng nữa.
Có nhiều người quen đứng trước số đông để ca hát, dẫn chương trình nên cũng không bị mất bình tĩnh. Nhưng nếu họ không có tâm lực lớn mạnh thì cũng không gây nên sự thu hút nhiều đối với quần chúng. Hầu hết người nổi tiếng có sự thu hút thì cũng phải có một tâm lực trong chừng mực nào đó chứ chẳng phải hoàn toàn không. Họ cũng có cái phước ở đời trước để bây giờ cũng có cái thần cần thiết giúp thu hút quần chúng.
Nếu có được tâm lực khi giảng rồi thì tự nhiên tâm lực đó vẫn tồn tại mãi trong bài giảng dù ta thu âm chuyền đi chuyền lại nhiều lần. Nghĩa là, nếu người ngồi trong giảng đường nghe trực tiếp giảng sư thuyết pháp và cảm thấy rất hấp dẫn lôi cuốn thu hút, rồi lấy bài giảng đó thu âm đem đưa người khác nghe, người nghe sau vẫn cảm thấy có sự thu hút như được giảng sư đang nói trực tiếp với mình. Tâm lực tồn tại một cách vi diệu không biên giới như thế.
Càng quên mình càng có nhiều tâm lực. Đây là hệ quả rất hợp lý và tự nhiên. Trong đời sống bình thường, ta sống vị tha; khi ở một mình, ta buông bỏ vọng tưởng; lúc nào ta cũng xem mình không quan trọng, như cỏ rác, như cát bụi. Sống được như vậy thì tự nhiên tâm lực càng lúc càng dồi dào giúp ta giảng thuyết hiệu quả hơn.
Ta phải khắc ghi điều này vào tâm, người càng làm ra vẻ quan trọng thì càng mất đi sự thu hút. Người càng quên mình thì càng tạo nên hào quang vô hình thu hút mọi người.
Đó là lý do người kiêu mạn dần dần bị mọi người quên lãng. Chỉ những người biết khiêm tốn sẽ tồn tại lâu trong lòng của mọi người.
Vô ngã là đỉnh cao của sự khiêm hạ nên các vị Alahán đạt được tâm vô ngã rồi thì trụ động thiên địa như kinh Tứ thập nhị chương ca ngợi. Ta chưa thể đạt được Vô ngã như các vị Alahán, nhưng ta thường xuyên tự nhủ rằng mình không là gì cả, mình chỉ là cát bụi hư vô. Tự nhủ thầm mãi như vậy cũng giúp ta bớt nhiều chấp ngã kiêu mạn, và tâm lực cũng xuất hiện được phần nào.
Có một cách để ta nhận biết một người sẽ có năng lực tâm linh tỏa ra khi giảng hay không là xem trong đời sống, nếu người đó làm việc gì chỉ biết có một việc, không hay biết gì đến chung quanh thì tâm không tỏa ra. Ai vừa làm một việc này mà vẫn ý thức được mọi việc chung quanh thì sẽ có tâm lực tỏa ra khi thuyết giảng. Người như vậy có thói quen cảnh giác thường xuyên, cũng gọi là có tỉnh giác nhiều hơn. Ta cũng dùng cách đó để tự đánh giá chính mình.
Bài tập: Tăng Ni sinh đưa ra một số nhận xét về năng lực tâm linh tỏa ra của vài vị giảng sư mà mình có được tham dự nghe giảng, nhưng đừng nói tên thật của những vị đó. Quan trọng là khả năng nhận biết của mình về tâm lực vô hình đó. Tiếp theo là tự nhận xét chính mình khi nói chuyện có theo dõi được diễn biến nơi tâm của người nghe hay không. Lúc nhiều lúc ít ra sao?
