1. Thế nào là một bài giảng hay
Chữ hay nghe rất đơn giản nhưng thật ra là cốt tủy của vấn đề, là máu và mồ hôi của bao người, là niềm hy vọng của Phật Pháp. Ước mơ của thính chúng là được nghe một bài giảng hay. Ước mơ
của giảng sư là thuyết được một bài hay. Chỉ một chữ hay mà biết bao nhiêu điều kỳ diệu nằm trong đó.
Thật ra chẳng có lời lẽ nào chính xác để định nghĩa thế nào là hay. Cảm nhận được cái hay là thuộc về cấp độ tâm thức cao hơn ngôn ngữ. Người ta chỉ biết là hay mà chẳng biết hay ra sao. Tuy nhiên bài giảng thì có thể phân tích được một số điểm hay, còn một số môn nghệ thuật khác như âm nhạc thì cái hay là một bí mật. Một khúc nhạc được tấu lên, ta cảm nhận là hay. Không phân tích được hay là gì. Không có công thức cho cái hay. Đứa bé cũng biết khúc nhạc đó là hay. Người lớn cũng biết là hay. Nhưng hỏi hay chỗ nào thì không ai phân tích được. Cái hay của âm nhạc là một bí mật của tạo hóa. Việc người nhạc sĩ tìm ra một khúc nhạc hay để viết lại cho đời cũng chính là một bí mật, một may mắn, không có công thức gì cả. Một cái phước bí mật nào từ xa xưa cho ta những cái may mắn đó để ta tìm được những cái hay ẩn dấu trong vũ trụ mênh mông này.
Cũng vậy, chính cái phước bí mật từ quá khứ nào đó giúp ta thuyết thành một bài giảng hay khiến cho mọi người ngây ngất thán phục.
Tuy nhiên, với bài giảng, ta có thể phân tích để tìm ra các yếu tố đã tạo nên cái hay trong đó. Ví dụ giọng nói truyền cảm, ý tứ mới lạ, vấn đề bất ngờ, giải thích rõ ràng v.v... Phải làm sao để có kết quả cuối cùng là sự thấu hiểu của thính chúng, sự hân hoan của thính chúng, sự lợi ích của thính chúng.
Trước khi muốn hiểu thế nào là hay, ta hãy phân tích thế nào là không hay.
Bài giảng dở bao gồm những yếu tố sau đây:
- Tối nghĩa là yếu tố ban đầu. Giảng mà câu văn, lời nói không ai hiểu gì cả thì thật là một thất bại nặng nề. Câu thứ nhất không ai hiểu; câu thứ hai không ai hiểu; câu thứ ba cũng chẳng ai hiểu, thì sự bi đát đã đến rồi. Thính chúng bắt đầu muốn ngủ hoặc muốn bỏ ra ngoài hóng gió sau khi nghe một loạt các câu nói tối nghĩa như vậy. Ví dụ câu: Trên đời này ai cũng có quyền tìm một chỗ nghỉ ngơi giữa nơi xa lạ. Chẳng ai hiểu ta muốn nói gì. Hoặc câu: Nhân quả cho ta một ước mơ thương yêu cháy bỏng... Câu này vừa sến vừa không rõ nghĩa.
Bộ óc con người sẽ bị tê liệt và chán nản khi phải liên tiếp nghe nói mà không hiểu gì hết. Vì thế, họ sẽ ngáp, hoặc có che miệng hoặc không che miệng, rồi từ từ hết chứng mất ngủ kinh niên.
Do đó, một giảng sư phải nói câu nào rõ ràng câu đó. Khả năng nói cho dễ hiểu là một khả năng phi thường. Khi chưa mở miệng nói thì ta đã hiểu ý nghĩa câu nói của mình, nhưng từ đó ta chủ quan nói qua loa vì tưởng vấn đề dễ hiểu. Thật ra, ta hiểu là một chuyện, thính chúng hiểu hay không là một chuyện khác. Những người rất trí tuệ mới cảm nhận được mức độ hiểu của thính chúng như thế nào để lựa từng lời cho thích hợp. Ví dụ ta nói: Giông bão cuộc đời cho ta nhiều bài học hay. Câu nói đơn giản này không phải được hiểu dễ dàng với tất cả mọi người. Ta phải nói thêm như sau: Giông bão đó là những thất bại, những tai họa, những đổ vỡ mà ta phải gặp trong suốt cuộc đời mình. Nói như vậy thì rõ hơn một chút nhưng cũng chưa sáng. Ta nên nói thêm: Những người thương yêu ta nay phản bội ta, những công việc ta theo đuổi nay bế tắc, những cơn bệnh tật bất ngờ không lường trước đốn ngã ta. Nếu không có đạo lý để sống, ta sẽ đau khổ tuyệt vọng. Nhưng nếu có đạo lý soi sáng, ta mỉm cười cám ơn số phận cho ta biết thông cảm và thương yêu con người nhiều hơn...
Muốn trị bệnh nói câu tối nghĩa, ta phải tập viết trước. Ta sẽ viết từng câu một, rồi nghiền ngẫm xem câu đó có dễ hiểu với mọi người hay không. Rồi ta tập viết một đoạn, đem cho huynh đệ đọc xem mọi người có hiểu hay không. Thậm chí ta đưa cho bà già bán xôi nghe có dễ hiểu hay không.
Sau này, ta tập nói chuyện với mọi người qua những điều bình thường trong cuộc sống cũng dễ hiểu như vậy. Khi ta nói chuyện công việc nhà bếp, chuyện làm vườn, chuyện nhà cửa... cũng sao cho mọi người hiểu dễ dàng không phải hỏi đi hỏi lại.
- Điều quá cũ cũng là liều thuốc an thần cho thính chúng. Có thể buổi ban đầu mọi người nghe về hạnh nhẫn nhục cảm thấy rất xúc động, nhưng nếu được nghe y chang 5 lần nữa thì sự xúc động không còn nữa mà thay vào đó là sự buồn chán. Vì vậy, giảng sư phải biết, phải có những điều mới để trình bày suốt đời. Điều mới lạ luôn luôn làm mọi người thích thú háo hức. Đó là quy luật vàng, phải có sự mới lạ trong bài giảng. Nhưng ở đâu mà ta có đủ những điều mới lạ suốt đời để trình bày với mọi người mãi như thế. Đó chính là vấn đề, và đó cũng chính là điểm dừng trong sự nghiệp của một giảng sư. Khi nào ta không còn gì mới để trình bày cho mọi người nữa thì phải biết đó là lúc ta lui lại để nhường cho lớp người sau tiến lên. Hy vọng họ sẽ có những cái mới để làm sinh động Phật Pháp. Nếu trong đạo Phật, lớp cũ với những đạo lý cũ đã đi qua mà không có những người mới với những đạo lý mới tiến lên thì đạo Phật sẽ rơi vào tình trạng trì trệ một thời gian dài.
Nếu còn duyên thuyết pháp, tự nhiên ta còn nhiều điều mới lạ để trình bày. Nếu duyên thuyết pháp đã hết, tự nhiên ta không tìm ra điều gì mới nữa cả. Đó là quy luật.
Ở giai đoạn tuổi trẻ sung sức, những vị có tài thường hay có những sáng tạo bất ngờ về đạo lý. Chính những sáng tạo như thế làm cho các bài giảng sinh động lý thú hấp dẫn người nghe rất nhiều. Ta phải tán thán những sáng tạo như thế vì đã khiến đạo Phật được phong phú màu sắc, góp phần đưa thêm nhiều người đến với đạo. Tuy nhiên, điều ta phải hết sức cẩn thận là những sáng tạo mới mẻ đó không được ra khỏi Bát Chánh đạo, không được ra khỏi Tứ Diệu đế. Ai thích sáng tạo mà lạc vào tà kiến thì sẽ mắc quả báo nặng nề vì đã khiến cho nhiều người tu sai.
Điều khiến ta đôi khi cũng phải ngạc nhiên là, ai giỏi thì mới có sáng tạo, nhưng có nhiều khi sáng tạo trật lất. Nhiều người rất giỏi, rất linh động, rất sáng tạo, nhưng sai với Phật rất xa. Đó cũng là lý do nhiều khi chúng sinh bị mê hoặc bởi một vài vị có sự sáng tạo mới lạ rồi đi sai luôn. Giỏi là một chuyện, đúng lại là một chuyện khác. Sau này ta sẽ nói thêm về vấn đề này.
Có những đạo lý quan trọng mà ta phải nhắc đi nhắc lại suốt đời như luật Nhân quả, lòng Từ bi, lòng tôn kính Phật, Thiền định, lý tưởng hoằng pháp lợi sinh v.v..., nhưng ta phải khéo léo mỗi lần nhắc lại là một lần mới, mỗi lần nhắc lại là một lần làm cho đạo lý đó mới lên. Ví dụ lần trước ta nói về lòng thương yêu muôn loài nên suốt đời sống có lợi ích cho cuộc đời. Lần khác ta nói về lòng thương yêu muôn loài nên muốn cho mọi người thương yêu nhau. Lần khác ta nói về lòng thương yêu muôn loài nên muốn mỗi người phải biết tự làm phước để vươn lên khỏi khổ đau. Mỗi lần nhắc lại là mỗi lần mới. Đó là quy luật.
- Xa rời cuộc sống thực tế cũng là một thất bại của giảng sư. Ta có quyền nói cùng trời cuối đất sao cũng được, nhưng nghe hoài mà thính chúng không thấy có cuộc sống mình trong đó thì họ vẫn không cảm thấy thích thú đáng chú ý. Nhiều giảng sư thích nói những điều xưa cũ của mấy nghìn năm trước, hoặc nói những chuyện Bồ Tát các cõi giới xa xôi lạ lùng. Có thể chuyện thần thoại như vậy cũng khiến thính chúng tò mò đôi chút, nhưng một lát sau là họ sẽ bắt đầu ngán. Con người chỉ quan tâm đến điều gì dính dáng tới mình. Nếu một bài giảng không giúp cho họ sống tốt đẹp trong cuộc sống hằng ngày, thính chúng sẽ giảm mất sự quan tâm. Ngay cả khi giảng cho Tăng Ni ta cũng phải nói những chuyện thực tế trong đời sống tu hành của người xuất gia.
Vì thế, quy luật vàng của bài giảng hấp dẫn là phải nói những điều thực tế trong cuộc sống của mọi người.
Ai cũng có đầy những băn khoăn trăn trở trong cuộc sống. Phật pháp phải giúp họ nhìn rõ bản chất các vấn đề đó, giúp họ vượt qua những rắc rối đó để họ thấy Phật pháp thật sự là con đường đi đầy lợi ích. Ví dụ, người xuất gia lúc nào cũng bị dằn xé giữa niềm khát khao sống đời thanh cao và sự lôi cuốn của lạc thú thế tục. Sự dằn xé đó tạo thành biết bao nhiêu chuyện dở khóc dở cười của đời tu hành. Một bài giảng cho Tăng Ni phải giúp họ kiên định, giúp họ đứng vững với lý tưởng tu hành đã chọn, giúp họ đủ sức chống chỏi với giông bão cuộc đời. Người tu vừa muốn sống đơn giản, vừa tò mò với các trò vui thế gian. Có những người đã xé rào; có những người biết tự kềm chế. Vì vậy, một bài giảng phải giải quyết những điều thực tế này chứ không phải bay vào thế giới thần thoại xa vời. Người cư sĩ thì còn vô số chuyện rắc rối hơn nữa. Gia đình mà ngày xưa họ xem là tổ ấm hạnh phúc thì bây giờ đã trở thành địa ngục. Những người thân yêu bây giờ không muốn nhìn mặt nhau. Những rủi ro bất trắc trong đời sống lúc nào cũng chực chờ quật ngã họ. Đạo lý của Phật phải cho họ hướng giải quyết cụ thể chứ không thể nói chung chung mãi. Ví dụ, khi nói về tình trạng bệnh tật, ta phải chỉ rõ công đức nào giúp chuyển nghiệp bệnh, cách sống như thế nào giúp ngừa bệnh, lối tập luyện nào giúp chữa bệnh, chứ không được nói “thôi, thân này vô thường, trước sau gì cũng bệnh rồi chết đem chôn, để thầy đi tụng đám cho”.
Vì vậy, giảng sư phải có một phần tính chất Thế gian giải của Phật, nghĩa là thoát ra khỏi cuộc đời và nhìn cuộc đời rất rõ. Vì nhìn cuộc đời rất rõ nên ta mới có thể giải thích và giải quyết những bế tắc trong cuộc sống cho mọi người. Bài giảng có tính thiết thực lợi ích như thế chắc chắn sẽ thuyết phục được rất nhiều người.
- Vô lý cũng là một nhược điểm của giảng sư. Người nghe sẽ khó chịu khi nghe những lập luận vô lý, cẩu thả, vội vàng. Sự khó chịu dần dần sẽ biến thành sự bất mãn, khinh thường. Ví dụ nói rằng mấy người mù mắt là tại kiếp truớc hay háy nguýt người khác; mấy người ăn nhiều là tại kiếp trước làm heo v.v... Những lập luận vô lý như vậy gây mích lòng và khó chịu cho thính chúng.
Ngược lại, những diễn dịch hợp lý sẽ gây nên sự phấn khởi, dễ chịu, khâm phục nơi người nghe. Chính sự phấn khởi dễ chịu này khiến cho mọi người có cảm giác bài giảng là hay. Ví dụ ta nói ai cũng mơ ước được làm người tốt, nhưng có người trở thành tốt và có người trở thành kẻ bất lương. Lý do được tìm thấy là công đức nào đó đã khiến cho một người có sức mạnh để chiến thắng bản thân và giữ mình trong thiện pháp. Lý do được tìm thấy là sự thiếu vắng công đức nào đó đã khiến một người không có sức mạnh rồi trở nên yếu đuối trước cám dỗ và trái ngang. Công đức bí mật đó chính là lòng tôn kính các bậc đáng kính như Phật và Thánh chúng. Thiếu lòng tôn kính Phật ta sẽ không bao giờ đủ sức giữ lấy bản thân mình... Lý luận như vậy hợp lý vì có yếu tố của Luật Nhân quả trong đó.
Có nhiều vị thích dùng Tâm lý học Tây phương để lý giải các vấn đề của nhân sinh. Thật ra Tâm lý học không bao giờ nói tận nguồn tận gốc vấn đề cả. Chỉ có luật Nhân quả mới soi sáng giềng mối của vấn đề mà thôi. Tất cả lập luận của ta phải dựa vững chắc trên luật Nhân quả thì sẽ hợp lý và thu hút thính chúng.
Muốn nói vấn đề gì cho hợp lý, ta đừng bao giờ vội vàng kết luận. Hãy bình tĩnh xem xét nhiều mặt để thấy hết những điều ngoại lệ, những điều sâu xa. Ví dụ, ta muốn nói rằng trẻ em thật là ngây thơ vô tư nên rất đáng yêu, cũng như cần phải được bảo vệ. Rồi ta phải nhìn đến những đứa trẻ đã là quỷ từ nhỏ, biết hù dọa hiếp đáp bạn bè, biết bày các trò nghịch ngợm qua mặt người lớn, thậm chí rành chuyện người lớn như tinh. Nhờ nhìn kỹ nhiều trường hợp mà ta lập luận ít sơ hở hơn.
Qua phân tích 4 yếu tố cấu thành bài giảng dở, ta cũng rút ra 4 phương châm để tạo thành bài giảng hay, đó là, sáng nghĩa dễ hiểu, mới lạ, thực tế, và hợp lý.
Sắc màu phong phú
Ngoài 4 yếu tố quan trọng vừa nói, ta cũng có thêm những yếu tố khác, những tô điểm khác làm cho bài giảng thêm sắc màu sinh động phong phú như sau:
- Chuyện kể là một yếu tố cực kỳ hấp dẫn cho bài giảng. Nếu trong một bài giảng mà thiếu chuyện kể thì thiếu hẳn sự lôi cuốn. Không hiểu tại sao người lớn hay em bé gì cũng khoái nghe kể chuyện hơn là lý luận dông dài. Giảng sư phải để ý nguyên tắc tâm lý đó để đưa chuyện vào bài giảng của mình. Khi soạn dàn bài để giảng, ta nên chuẩn bị sẵn luôn một vài câu chuyện minh họa. Tuy nhiên kể chuyện nhiều quá cũng làm bài giảng kém giá trị vì phần lý luận không còn nhiều.
Ta phải lựa câu chuyện sao cho hợp lý, đừng khiên cưỡng vô lý làm người nghe khó chịu. Rất nhiều câu chuyện được lưu truyền trong sách vở, kể cả trong Phật giáo và ngoài Phật giáo, rất giả tạo, ta phải tránh sử dụng. Nếu ta kể một câu chuyện vô lý, bài giảng ta cũng sẽ vô lý theo.
Có một câu chuyện tiền thân Phật được kể nhiều trong sách sử nhưng rất dễ bị bắt bẻ, đó là chuyện Thái tử Tu Đại Noa bố thí cả vợ con cho một người xa lạ mặc cho vợ con than khóc lo sợ đau khổ. Bố thí như vậy không hề chứng tỏ lòng từ bi buông xả chút nào mà ngược lại, có vẻ lạnh lùng tàn nhẫn. Không biết từ bao giờ người ta đã sáng tạo câu chuyện kỳ lạ đó để đưa vào đạo Phật.
Hoặc ta kể rằng có một người nhờ tụng chú Đại bi thường xuyên nên phát ra làm ăn giàu có. Thế biết bao nhiêu người khác tụng chú Đại bi sao chẳng giàu giùm đi?
Tuy nhiên, có những câu chuyện thần thoại lại rất hợp lý, hợp với tinh thần đạo Phật thì cực kỳ lợi ích hấp dẫn. Ví dụ câu chuyện đức Phật nhận lời thỉnh cầu của vua nước Licchavi đến cứu giúp đất nước này đang bị nạn hạn hán khốc liệt. Khi Phật vừa đặt chân đến biên giới nước này thì cả đất nước này chìm trong cơn mưa thấm đẫm. Phật không hề làm một động tác cầu nguyện nào, chỉ đơn giản đi đến là lập tức mưa rơi.
- Vài đoạn thơ cũng khiến cho bài giảng tươi mát lên rất nhiều. Thật vậy, nghe cả một lúc dài những lý luận bằng văn xuôi riết cũng ngán, chợt có một đoạn thơ vang lên cũng làm người nghe dễ chịu. Tuy nhiên ta phải chọn đoạn thơ phù hợp với ý nghĩa đạo lý mà ta đang giảng, đồng thời phải nêu tên tác giả rõ ràng theo tinh thần tôn trọng bản quyền của luật Pháp Việt Nam và quốc tế. Còn nếu thơ đó là của ta thì thôi. Vị giảng sư nào thuộc nhiều thơ cũng có lợi thế. Hoặc nếu có khả năng thì mỗi bài giảng ta làm vài câu thơ cho riêng bài đó thì cũng rất hay. Nhưng yêu cầu là thơ phải đúng vần đúng luật, đừng làm thơ tự do không vần không luật dễ dãi không hay.
Nghe giảng riết nhiều khi cũng phát mệt
Vài câu thơ làm tan hết ưu phiền
Mời gió thu về khe khẽ bên hiên
Hay nắng nhạt bên triền non xa thẳm.
- Ví dụ cũng là cách làm dễ hiểu và hấp dẫn cho bài giảng. Ví dụ là những sự tình được sáng tạo hư cấu, thường là không có thật, chỉ là giả định, nhưng hợp lý, và giúp minh họa thêm cho lập luận của bài giảng. Ví dụ, để làm sáng tỏ thêm ý người sống vị tha sẽ có tinh thần mạnh mẽ lạc quan, ta có thể dựng một ví dụ rằng Khi ta đem vài ký gạo, lon sữa, ký đường đến cho người hàng xóm bị bệnh, người hàng xóm vui vẻ cảm động biết bao. Tâm hồn ta cũng tự nhiên dâng lên niềm hạnh phúc và hứa với lòng rằng sẽ đem nhiều niềm vui đến cho đời hơn nữa. Chuyện đi thăm tặng quà người bệnh chỉ là hư cấu, nhưng cũng giúp làm rõ thêm đạo lý mà ta đang trình bày. Hoặc ta ví dụ nếu đi giữa đường, gặp cục đá bự rơi từ lúc nào và đang nằm chình ình giữa đường, có thể gây tai nạn cho ai lái xe vấp phải. Ta có chịu cực dừng lại quăng cục đá đó vào bên đường hay không? Đó chỉ là cách đặt vấn đề giả định, nhưng làm sáng tỏ nhiều điều ta muốn nói.
Bài tập cho lần này là Tăng Ni sinh soạn bài giảng 10 phút, đề tài tự chọn, giảng làm sao cho đủ 7 yếu tố để làm cho bài giảng hay hẳn lên. Thu vào băng từ nộp cho giáo thọ.
